HIện nay người xác nhận hiệu quả sử dụng đất để người có đất được tiếp tục sử dụng hay không chính là chính quyền địa phương. Cơ chế này tiềm ẩn nguy cơ xung đột lợi ích. Trong nhiều trường hợp, người dân buộc phải cầu cạnh chính quyền để giữ đất, cơ hội cho nguy cơ tham nhũng rất cao.
>> Kỳ 1: "Người dân thực sự làm chủ ruộng đất được bao lâu?" Hạn chế quyền thu hồi đất của Nhà nước để chặn tham nhũng Nhà báo Thu Hà: Có một vấn đề đã được đặt ra trên nhiều
diễn đàn công khai rằng "chính địa ngục của người nghèo đã làm nên thiên
đàng cho người giàu"? để ám chỉ những quan chức tham lam, nhân danh Nhà
nước chiếm dụng ruộng đất của dân. Theo các ông, những quan chức tham
lam đã lách qua những kẻ hở luật pháp nào để tư lợi? GS. Đặng Hùng Võ: Kênh nối giữa các quan tham và người dân sử
dụng đất là cơ chế tham nhũng trong quản lý đất đai. Những nghiên cứu về
tham nhũng trong đất đai ở Việt Nam đều chỉ ra rằng có 2 hình thức chủ
yếu: dạng thứ nhất là "bôi trơn" khi giải quyết các thủ tục cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất; dạng thứ hai là "chạy" để được áp dụng
biện pháp thu hồi đất của người sử dụng đất để giao cho nhà đầu tư. Dạng
thứ nhất là tham nhũng có giá trị nhỏ, nhưng số lượng rất lớn vì hộ gia
đình nào cũng có đất. Dạng tham nhũng này thuộc về các cán bộ nghiệp vụ
địa chính và lãnh đạo UBND cấp có thẩm quyền ký giấy chứng nhận. Dạng
tham nhũng thứ hai có giá trị rất lớn nhưng số lượng ít vì chỉ liên quan
tới các dự án đầu tư kinh tế. Người dân chẳng may bị mất đất thì mất
nghiệp, rơi vào cảnh nghèo hèm như bỗng sa xuống địa ngục. Các quan tham
và các nhà đầu tư dự án được đất, nhất là những nơi đắc địa, thì cùng
nhau phú quý như được lên thiên đàng. Địa tô đã chạy trrên kênh này từ
người mất đất sang người được đất. Trái với cả lẽ dân chủ, lẽ công bằng
và lẽ văn minh. Ông Nguyễn Đình Lộc: Khi chúng ta nói đất đai thuộc sở hữu
toàn dân, nhà nước đại diện quản lí tạo ra một cái hấp dẫn cho bộ máy.
Sau này vi phạm đất đai thì chính cán bộ ta, nhà nước ta. Vi phạm luật
đất đai chính là những người trong bộ máy nhà nước. Nhà nước quản lý thì
cụ thể là ai? Nhà báo Thu Hà: Như vậy người ta có thể hiểu là, do chúng
ta định nghĩa "sở hữu toàn dân" là quá chung chung, mập mờ khiến cho
một số quan chức tham lam nhân danh tập thể làm giàu bất chính? Ông Nguyễn Đình Lộc: Tôi còn nhớ sau này mỗi lần xử lí vấn đề
gì về đất đai ai cũng nói đất đai thuộc về toàn dân, bây giờ chúng ta có
vũ khí rất chắc trong tay là sở hữu toàn dân nhưng thực chất là sở hữu
nhà nước, nói toàn dân cho đẹp vậy thôi. Nói đất đai sở hữu toàn dân gây
cảm nhận không đúng. Bà luật sư nổi tiếng Ngô Bá Thành từng bảo, không biết nói đùa hay nói thật: "sở hữu toàn dân là mỗi người có một đám đất". GS. Đặng Hùng Võ: Sở hữu toàn dân mang tính khẩu hiệu là
chính, toàn dân không phải là môt chủ thể của xã hội. Nội dung cụ thể
cũng tùy từng quốc gia hành xử. Về lý luận, sở hữu đối với đất đai là
một loại hình sở hữu đặc biệt, không giống sở hữu các tài sản thông
thường khác. Đặc biệt ở chỗ, có một phần quyền định đoạt do nhà nước
thực hiện, một phần do người giữ đất thực hiện, thậm chí môt phần do
cộng đồng định đoạt. Dù gán tên sở hữu là gì thì nội dung cụ thể vẫn như
vậy. Điều quan trọng là cho dân quyền đến đâu và Nhà nước giữ quyền đến
đâu. Tên sở hữu là gì chỉ là việc dán "nhãn". Hiến pháp năm 1959 của ta vẫn chấp nhận đa sở hữu về đất đai, trong
đó có sở hữu của cá nhân người lao động và sở hữu của tư sản dân tộc với
lý do nước ta đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đến
Hiến pháp năm 1980, chúng ta định nghĩa đất đai và các tư liệu sản xuất
chủ yếu thuộc sở hữu toàn dân mà không có bất kỳ một xử lý tài chính
nào. Hiến pháp năm 1992 cũng vậy. Vì thế Luật Đất đai năm 2003 ra đời
trong điều kiện bảo đảm sở hữu toàn dân về đất đai, không thảo luận về
vấn đề này. Nhà báo Thu Hà: Chắc hẳn vừa rồi quí vị có theo dõi vụ sóng
gió tại Ô Khảm (Trung Quốc). Theo báo chí kể lại, dân làng Ô Khảm đã
gay gắt tố cáo quan chức nhân danh tập thể làm giàu trên mồ hôi của họ.
Từ câu chuyện này, chúng ta có thể rút ra bài học gì cho mình? GS. Đặng Hùng Võ: Đó cũng là một dạng giọt nước tràn li. Tất
nhiên, tôi cho rằng sớm muộn chúng ta cũng phải đổi mới, ít nhất là cũng
là đổi mới theo hướng làm đầy quyền giao dịch đất đai cho người đang
giữ đất (ta đã có đủ) và hạn chế lại quyền thu hồi đất của Nhà nước. Thứ nhất , quyền "Nhà nước thu hồi đất" là sản phẩm riêng của pháp
luật đất đai của nước ta, không có trong Hiến pháp. Hiến pháp hiện hành
chỉ quy định Nhà nước có quyền trưng mua hoặc trưng dụng tài sản của dân
khi thật cần thiết vì mục đích quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia.
Quyền sử dụng đất là tài sản của dân. Vậy hãy thay quyền "Nhà nước thu
hồi đất vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh và
phát triển kinh tế" bằng quyền "Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng quyền
sử dụng đất vì mục đích quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia" như
Hiến pháp quy định. Làm được việc này thì quyền của Nhà nước và quyền
của người đang giữ đất ở ta và ở các nước phát triển giống hệt nhau. Thứ hai, khi đã xác định nội dung cụ thể rồi thì tên gọi chỉ là hình
thức. Đặt tên là "toàn dân" hay đặt tên là "Nhà nước" hay đặt tên là "tư
nhân" đều được. Có chuyên gia nói rằng tên "sở hữu toàn dân" là đặc thù
rất Việt Nam. Sự thực không phải, sở hữu toàn dân là tên gọi chung về
sở hữu đất đai của nhiều nước xã hội chủ nghĩa cũ. Thường khi xem xét
vấn đề sở hữu, các chuyên gia nước ngoài cũng nhìn vào nội dung là
chính, không luận nhiều về hình thức tên gọi đâu. Tôi còn nhớ, khi đàm phán Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và gần đây
là chuyện ta đề nghị các nước công nhận Việt Nam có là nền kinh tế thị
trường đầy đủ, các chuyên gia nước ngoài hay xoáy vào "sở hữu toàn dân
về đất đai". Các chuyên gia về đất đai của ta lại phải giải thích rất kỹ
về nội dung của sở hữu này, nghe xong nội dung họ ồ lên và nói tốt vì
quyền của người dân không khác gì bên họ. Họ chỉ băn khoăn vì sao ta lại
cho UBND địa phương quyền thu đất lớn đến thế, không sợ tham nhũng hay
sao? Nhà báo Thu Hà: Ông có dẫn chứng? GS. Đặng Hùng Võ:Vụ Tiên Lãng là một điển hình. Luật pháp
không cho thu hồi đất nông nghiệp khi hết thời hạn mà chính quyền vẫn
thu hồi, thu hồi để giao cho xã quản lý. Một gia đình nhỏ nhoi không
chịu nghe quyết định thu hồi thì cưỡng chế bằng một lực lượng vũ trang
ngang một đại đội. Thoạt đầu nghe tôi không tin là ở đâu đó lại có
chuyện quái lạ đến như thế. Đất đang sử dụng có hiệu quả mà lại thu hồi
lại để quản lý. Sau khi nghe kỹ thì cũng thấy "hợp lý". Ông chủ tịch
huyện và ông chủ tịch xã là 2 anh em ruột, nên ông huyện quyết tâm cưỡng
chế để giao đất đẹp cho em quản lý cũng là dễ hiểu. Làm rõ ai là chủ TS. Đặng Kim Sơn: Tôi nghĩ anh Đặng Hùng Võ có lý khi nói chỉ
cần chúng ta cải thiện cái việc quyền thu hồi sẽ ngăn chặn được những
câu chuyện mà nó diễn ra như ở Tiên Lãng (Hải Phòng) hay ở Ô Khảm (Trung
Quốc). Tuy nhiên, câu chuyện đất đai ở đây chúng ta mới nói đến một góc
vấn đề. Nhân đây tôi nói thêm một góc khác, là đất nông lâm trường. Hiện
chúng ta có 4 triệu ha đất nông lâm trường, ở đó không phải là câu
chuyện không phải có một ông nào đó đứng ra thu hồi của người dân vì nó
nằm trong tay nhà nước, về mặt hình thức. Thật ra đấy là đất vô chủ, đất
bị chiếm dụng, chiếm đoạt một cách chính thức. Vậy nếu chúng ta chỉ
giải quyết vấn đề thu hồi thôi thì chưa đủ. Ở đây phải làm rõ vấn đề
chủ, ai là chủ? Quay lại câu chuyện như ông Nguyễn Đình Lộc và ông Đặng Hùng Võ đã
nói lúc đầu, nếu chúng ta nói toàn dân cũng có nghĩa là không ai cả,
cũng như nếu nói của tất cả mọi người thì cũng có nghĩa không của ai.
Thực ra, thủ trưởng đương nhiệm của nông trường ấy là người nắm quyền,
ít nhất là nếu như là đất công ở trong thành phố cho thuê. Tôi đã thấy
những cơ quan cho thuê không biết bao nhiêu đất, trong khi có những cơ
quan như cơ quan tôi bây giờ vẫn phải đi thuê nhà riêng của dân để làm
cơ quan. Thế rồi, tệ hơn nữa là người ta bán đi, mà nông lâm trường thì họ ký
hợp đồng giao khoán, đủ loại giao khoán. Vấn đề là tiền vào túi ai ngoài
cái túi tập thể ấy, tệ hơn là nữa là vào túi vài cá nhân. Tóm lại, các
ông chủ đích thực là nhà nước chả được gì, toàn dân cũng không được gì
cả. Từ đó tôi mới nghĩ câu chuyện sở hữu là phải làm rất rõ, phải xác
định chủ nhân rất cụ thể mới được. Mục đích chính là làm cho nó có chủ,
để cho nó rõ khả năng quản lý. Và cuối cùng cái gì của nhà nước phải về
nhà nước, để chia lại cho toàn dân, phải nộp thuế. Còn cái gì không
thuộc về nhà nước thì mỗi người dân phải sử dụng nó hiệu quả. Chế tài đảm bảo không cho những người không sản xuất tích lũy đất đai
cũng rất dễ. Cứ thể hiện cụ thể ngay trong luật trong luật cho rõ ràng
là được. Làm sao đảm bảo những người nông dân làm ăn chân chính có cơ
hội đầu tư phát triển sản xuất, làm ăn lớn. Nhà báo Thu Hà: Xin được hỏi ông Sơn, hiện nay tỷ lệ người nông dân tích lũy được trên 5 ha đất có nhiều không? TS. Đặng Kim Sơn: Hiện nay chúng ta có khoảng 10 triệu hộ nông
dân mà chỉ có 1 vạn trang trại thôi, tức là chiếm khoảng 1% dân số là
trang trại, có thể nói tỷ lệ đó của chúng ta là rất nhỏ, vào loại nhất
thế giới, bình quân ruộng đất của ta khoảng 0,64 ha/người. Ngay các nước Đông Nam Á, người ta tệ nhất cũng phải 1,2 ha, Thái Lan phải 5 ha, không nước nào nửa ha như mình cả. Nhà báo Thu Hà: Có thể hiểu là lâu nay cơ hội vẫn chưa mở ra cho những người nông dân, vẫn còn những người cày chưa có ruộng. TS. Đặng Kim Sơn: Cứ như thế này thì sản xuất nông nghiệp chỉ
có tụt lùi. Tôi chưa nói đến đi lên CNXH, trước hết chúng ta phải đi lên
để đảm bảo tăng trưởng bình thường của nền kinh tế, chúng ta phải công
nghiệp hóa, phải tạo việc làm. Ban nãy chúng ta nói câu chuyện đất đai
và người cày, thì bây giờ câu chuyện chính là song song quá trình tích
lũy vào tay những người làm ăn giỏi thì phải rút lao động ra khỏi nông
thôn, chuyển sang phi nông nghiệp. Đấy mới chính là tăng trưởng bền
vững. Nhà báo Thu Hà: Điều này chỉ có thể làm được khi chúng ta
làm rõ được hai vấn đề cơ bản về không gian và thời gian trong sở hữu.
Như vậy, sửa Luật Đất đai tới đây phải theo hướng nào mới đảm bảo
"người cày có ruộng" sẽ được các vị khách mời bàn thảo trong kỳ 3 của
tọa đàm. Mời quí vị cùng theo dõi. "Sau thời điểm 30/4/1975, chúng ta đã tiến hành giải quyết
vấn đề ruộng đất thực hiện theo chỉ thị 57, phân bổ đất cho những hộ
nghèo. Lúc bấy giờ đây là quan điểm đúng. Sau đó, chúng ta lại tiến hành
cải tạo nông nghiệp, điều chỉnh ruộng đất theo bình quân đầu người
thành ra manh mún khiến cho nhiều trung nông có kinh nghiệm sản xuất bị
triệt tiêu vì không đủ lư liệu sản xuất, còn những người nghèo không
biết về sản xuất lại sở hữu ruộng đất. Chúng ta mong muốn tạo ra sự công
bằng nhưng thực tế thì không phải như vậy. Sau đó chúng ta còn tiến hành cải tạo nông nghiệp, lấy mô
hình của Miền Bắc áp hẳn cho Miền Nam mà không chú ý đến đặc trưng của
từng vùng miền, khiến cho nông dân ĐBSCL bất bình, họ bỏ bê ruộng đất,
vườn tược không thiết tha. Những năm 1980, chính tôi đã phải trực tiếp giải quyết những
phản ứng của nông dân khi họ chống lại cách làm không công bằng. Thời
điểm đó cả nước thiếu lương thực trầm trọng. Mặc dù xảy ra đã lâu, và sau đó chúng ta đã kịp thời phản
tỉnh khi quyết định thực hiện con đường Đổi Mới, nhưng trong chừng mực
một số bất cập hiện nay là hệ luỵ của một thời gò ép. Đặc biệt gần đây, nhiều thửa ruộng đang được chuyển đổi mục
đích thành các KCN, KĐT khiến cho nhiều nông dân mất tư liệu sản xuất.
Không có đất trong tay, chỉ có một khoản đền bù ít ỏi và chưa được chuẩn
bị nên số đông người nông dân ở ĐBSCL đã gặp khó khăn trong mưu sinh
trong khi đó một số ít những người cơ hội ngày càng trở nên giàu có nhờ
kinh doanh những mảnh đất nông nghiệp màu mỡ khiến cho khoảng cách giàu
nghèo ngày càng lớn. Đó là điều nông dân đang rất bức xúc. Nhìn lại mấy chục năm qua, người nông dân một lòng tin theo
Đảng, nhưng họ cũng là những người rất khẳng khái, khi đường hướng sai
họ sẽ không phục."
Thời hạn sử dụng đất nông nghiệp là vấn đề lớn trong chính sách đất đai
nông nghiệp, đang tạo nên nhiều bức xúc trên thực tế. Thời hạn được quy
định từ Luật Đất đai 1993 với tinh thần hết thời hạn vẫn được tiếp tục
sử dụng nếu việc sử dụng đất có hiệu quả. Tiêu chí để được tiếp tục sử
dụng đất là "sử dụng có hiệu quả", một tiêu chí mù mờ. Hơn nữa, ai là
người xác nhận tiêu chí này. Trên thực tế, chắc chắn phải là chính quyền
từ thôn, qua xã, tới huyện. Người nông dân lại phải đưa đầu vào 3 cửa
quan để được xác nhận là "sử dụng đất có hiệu quả". Thế là tham nhũng sẽ
đến.
Vấn đề này được đề cập khi xây dựng Luật Đất đai 2003, câu hỏi được đặt
ra là "khi hết thời hạn thì làm gì?". Có một luồng ý kiến cho rằng hết
thời hạn thì chia lại đất cho công bằng, một luồng khác lại cho rằng như
thế thì hóa ra cứ 20 năm lại cải cách ruộng đất một lần, sợ lắm, loạn
xã hội nông thôn mất, lại phải lót tay để được nhận ruộng đất tốt ư, cần
kéo dài thời hạn, hay tốt nhất là bỏ quách thời hạn đi, chia ruộng đất
một lần thôi. Hai luồng ý kiến ngang nhau nên không quyết được và phải
gác lại giải quyết trước khi hết hạn gần nhất (15/10/2013). Thế là mười
năm qua (2003-2013) người nông dân nào cũng lo lắng, không biết ruộng
đất mình đang nắm giữ có còn của mình không hay là rơi vào tay người
khác vì chia lại. Đã vậy thì sử dụng đất cho cạn kiệt đi, không cần bồi
bổ gì vì chắc đâu còn của mình nữa. Năng suất ngày một kém đi. Cách biết
việc mà thấy khó rồi để lại cũng đâu phải là hay.
Vì không giải quyết được tận gốc vấn đề thời hạn nên Nghị định 181 đưa
ra quy định hết thời hạn không được thu hồi đất nông nghiệp. Chính sách
lớn đến vậy mà quan huyện Tiên Lãng cứ thu hồi, mặc kệ pháp luật...
Các vị khách tham gia Bàn tròn trực tuyến. Ảnh: Nguyễn Hoàng
Theo TUANVIETNAM
- Nông dân đi thuê ruộng
- Sex 'quái dị' của giới trẻ Việt
- Email của đồng hương gửi Bí thư Thành ủy Hải Phòng
- Từ chức không dễ!
- Số phận trẻ nhặt rác Việt Nam qua góc nhìn CNN
- Chuyên gia nghiên cứu mại dâm nói về “bóc bánh”
- Cuộc hội ngộ cảm động của những nông dân mất đất tại nền nhà ông Vươn
- Ngôi nhà tình ái
- Valentine cho Liệt Nữ Đặng Thùy Trâm - Thơ Đặng Huy Văn
- "HẢI PHÒNG ĐÓ, ĐAU THƯƠNG CHỈ BIẾT GỤC ĐẦU"?..











