Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, sinh năm 1941 tại Điện Bàn - Quảng Nam, là Giáo sư Danh dự Thực thụ trường Đại học Liège, Bỉ. Ông được xem là một trong “10 người làm thay đổi nước Bỉ”, một trong những nhà cơ học xuất sắc nhất châu Âu. Giáo sư đã được Vương triều Bỉ phong tặng Huân chương Đại thần. Đặc biệt, suốt nhiều năm ông làm cầu nối đào tạo hơn 300 thạc sĩ, 20 tiến sĩ cho Việt Nam đạt trình độ quốc tế, chưa kể trên 50 người còn tiếp tục theo học ở nước ngoài. Xuân Nhâm Thìn, Giáo sư đã dành riêng cho Báo Quảng Nam những trang viết đầy xúc động về tuổi thơ, quê hương và sự học…
![]() |
| Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng về thăm quê nhà (Bồ Mưng - Điện Bàn). |
Tôi sinh ra ở làng Bồ Mưng, tổng Thanh Quýt, phủ Điện Bàn (cũ). Do chiến tranh loạn lạc, từ năm lên sáu tuổi tôi đã bắt đầu cuộc đi cùng nơi khắp xứ như cánh chim thiên di. Hình ảnh nơi chôn nhau cắt rốn chỉ còn trong ký ức tuổi thơ, khi mà tôi chưa đủ khả năng thâu nhận hết bề dày giá trị văn hóa quê hương. Lại không may, tôi mồ côi mẹ rất sớm, xa ông bà, xa gia tộc, nên không được bà con, cô bác ở quê nhắc nhở, chăm sóc...
Nhưng vọng về kỷ niệm tuổi ấu thơ tôi còn nhớ những câu dân ca má tôi ngân lên khi ru em ngủ. Rồi nhớ những đêm trăng tôi lẽo đẽo theo ông nội đi dạo, ngắm trăng và hoa trên những trên con ngõ đi vào khu nhà thờ tộc Nguyễn Đăng. Ông nội tôi là trưởng tộc, sở hữu đất hương hỏa tọa lạc trên vùng cao, cách quốc lộ chỉ chừng trăm mét. Ở Điện Bàn, đây là một ân huệ vì lũ lụt hằng năm nhưng chưa bao giờ nước dâng lên đến khu vườn gia tộc. Nhưng trong chiến tranh, đây lại là nguyên cớ cho điều bất hạnh vì thường xuyên bị càn quét bởi quân đội Pháp mà phần lớn là lính đánh thuê gốc Phi Châu, đóng đồn gần đó. Để chống du kích Việt Minh, bảo đảm an toàn cho đồn bốt, người Pháp đã phát hoang cây cối chung quanh… Kết quả là toàn bộ khu vườn nhà ông bà nội và ba má tôi với nhiều cây trái sum sê ngọt ngào bóng mát sau này chỉ còn bình địa. Tôi còn nhớ rõ cây mít bà, loại mít ướt có thân to cao sù sì mà bọn trẻ chúng tôi năm đứa nắm tay vòng quanh mới hết... Họ đã làm gì với cây mít bà thân yêu của tôi? Lúc ấy tôi đã đi theo ba tôi, khi ông tham gia kháng chiến ở tận Tam Kỳ, Tiên Phước, nơi mà người Pháp không kiểm soát được.
Tôi cũng còn nhớ những ngày theo má tôi về thăm quê ngoại - bà Hương Nữ ở An Trạch, có tiếng là giàu có vì sở hữu nhiều ruộng đất… Khu nhà ngoại có sân lát gạch rộng mênh mông bao quanh bằng những con đường rợp bóng mát của hai hàng cây mù u dài xa tít. Những năm còn hòa bình, cuộc sống quê tôi sao êm đềm đến thế. Lần đầu tiên, tôi cũng cắp sách rụt rè theo chân má tôi vào lớp học trường làng. Con đường đi đến trường khúc khuỷu quanh co, lắm khi sình lầy qua cơn mưa…
Tôi nhớ mãi giọng ông nội tôi ngâm vang những bài cổ thi dưới trăng. Tôi đã thuộc lòng từ thuở ấu thơ những bài thơ thất ngôn bát cú của bà Huyện Thanh Quan, vang vọng câu “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc/ Thương nhà mỏi miệng cái gia gia…”.
Sau này tôi yêu văn học cũng vì ảnh hưởng xa xôi từ ông tôi. Tôi đã từng định học văn khi thi đậu vào Cao đẳng sư phạm Sài Gòn, nhưng ba tôi không cho, ông muốn tôi học y. Tôi lại thi đậu vào trường quân y nhưng học chưa đầy bốn tháng thì nhận được học bổng du học tại Bỉ và thời ấy (1960), du học sinh bị bắt buộc phải đổi sang các ngành kỹ sư. Thế là tôi trở thành kỹ sư ngành vật lý hàng không không gian, nghiên cứu về cơ học tính toán, rồi trở thành tiến sĩ khoa học ứng dụng, giáo sư đại học, trải một cuộc đời và sự nghiệp hơn 50 năm ở xứ lạ quê người.
Năm hòa bình thống nhất đầu tiên, Tết Bính Thìn – 1976, tôi có dịp về thăm quê cũ làng xưa (Bồ Mưng - Điện Bàn). Tôi cũng ghé thăm nơi tôi đã sống từ cuộc di tản hồi 8 tuổi lên Tam Dân, Tam Kỳ… Cuộc chiến ác liệt đã tràn qua quê tôi. Cái mất mát quá lớn, quá sức tưởng tượng. Những hình ảnh êm đềm thời thơ ấu của tôi đã trở thành tro bụi. Những ám ảnh của hai cuộc chiến cứ theo tôi suốt những năm dài sống ở quê người. Tôi đã ghi lại những dòng sau đây, ngày còn ngao du bên Thụy Điển, nơi không xa vùng Bắc cực :
Cậu bé ngày xưa lam lũ cút côi
Cậu bé thành người thì họ đã đi rồi
Không để lại, ngay những lời trăng trối
Đất nước hồi sinh, cuộc đời tiếp nối
Người thân yêu lưu lạc khắp địa cầu
Bè bạn xa rồi, không biết về đâu
Không biết hôm nay, ai còn ai mất
Nỗi buồn chiến tranh, nỗi buồn có thật
Nhưng mấy ai tả hết nỗi kinh hoàng!
Từ ký ức tuổi thơ lưu lạc, tôi thường nghĩ về những cậu bé quê nhà vẫn còn lam lũ trên cánh đồng bát ngát hay bơ vơ trên hè phố đầy bụi bặm. Bởi vậy, tôi thường tự bảo mình dù thế nào chăng nữa cũng phải làm gì cho quê hương, cho tuổi trẻ Việt Nam. Tôi coi đó như một định hướng, một hoài bão, thân phận, định mệnh…
Năm 1977, tôi được Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước mời về thỉnh giảng khoa học. Nhưng thời ấy còn quá nhiều bất cập vì cơ chế bao cấp. Phải đợi đến sau ngày đổi mới tôi mới bắt đầu triển khai những dự án do tôi đề xướng và điều hành tại Việt Nam.
Có người hỏi tôi sao giáo sư không giúp đỡ các đại học ở Quảng Nam - Đà Nẵng mà đi mở các lớp đào tạo tại Sài Gòn, Hà Nội, ròng rã gần 20 năm? Xin thưa, là một chuyên gia có kinh nghiệm điều phối các lớp đào tạo liên đại học trong khuôn khổ cộng tác đại học của khối Liên hiệp châu Âu, tôi nghĩ việc kết nối hệ thống liên đại học mà tôi đã dày công xây dựng với các đại học Việt Nam là một việc làm nhanh chóng và hữu hiệu nhất. Và để gặt hái thành công, tôi bắt buộc phải bắt đầu triển khai tại những nơi có đông đảo sinh viên kỹ sư ra trường, có trình độ ngoại ngữ và học thuật đủ để có thể tham gia tuyển sinh vào các lớp đào tạo thầy cho Việt Nam, bậc thạc sĩ và tiến sĩ. Tôi quan niệm trên dải đất hình chữ S ở đâu cũng là quê hương Việt Nam…
Vào những năm 90, trở về Việt Nam sau mười năm vắng bóng (1979-1989), tôi ưu tiên về thăm và làm sê-mi-na tại trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, thời hiệu trưởng Phan Kỳ Phùng. Nhưng vì thấy số kỹ sư tốt nghiệp tại miền Trung còn quá ít để hình thành các lớp cao học có chất lượng với sĩ số ít nhất phải 20 người, tôi đành bằng lòng với quyết định tài trợ chi phí di chuyển cho các kỹ sư từ Đà Nẳng hay các vùng miền Trung (bắt đầu từ Phan Thiết) vào Sài Gòn theo học cao học châu Âu. Trên thực tế đã có mươi người thành công tốt nghiệp bằng thạc sĩ do Bỉ cấp theo cách ấy.
Năm 2002, tôi đã bỏ nguyên một năm sửa soạn thỏa thuận ký kết giữa các đối tác để đề xuất một dự án có quy mô đáng kể cho Đà Nẵng, trong khuôn khổ chương trình Asia-Link của châu Âu. Đó là dự án: “Tổ chức 1 trường cao học tại Đà Nẵng với sự tham gia của 10 trường đại học lớn của Liên hiệp châu Âu, 10 trường đại học Việt Nam, 1 trường đại học Lào và 1 trường đại học Campuchia”. Vì dự án có bố trí trợ cấp học bổng cho các sinh viên ở xa tụ về Đà Nẵng nên tổng số kinh phí khá lớn. Có lẽ đó là lý do mà dự án không được Ủy ban châu Âu chấp nhận tài trợ. Tôi đành ngậm ngùi tự bảo lại một lần nữa không có duyên với quê mình.
Phải đợi đến tháng 11.2009, tôi mới có dịp làm một động thái thiết thực cho Quảng Nam, Tam Kỳ.
Nguyên tôi có người cháu bên ngoại là Đỗ Anh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Phước Tiến chuyên sản xuất chế biến hải sản xuất cảng chủ yếu sang Nhật Bản. Từ 2009, vì những biến động tại biển Đông, doanh thu giảm sút do nghề đánh cá bị đe dọa nặng nề, cuộc sống của ngư dân Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, cháu tôi đổi hướng kinh doanh, muốn đóng góp trong công cuộc giáo dục đào tạo, đặc biệt trong lĩnh vực dạy nghề cho tuổi trẻ địa phương và vùng Tây Nguyên lân cận. Anh ấy đã mua lại trường Cao đẳng Phương Đông. Cháu tôi khẩn khoản mời tôi về làm Hiệu trưởng. Tôi do dự rất lâu vì bấy lâu nay mình chỉ chuyên môn tổ chức đào tạo và giảng dạy ở bậc cao học còn bậc dạy nghề hay cao đẳng kỹ thuật thì chưa bao giờ làm. Nhưng vì thấy lợi ích thiết thực cho quê nhà, nghĩ mình có thể giúp cho trường củng cố, phát huy cơ sở cho tương lai, nhất là xây dựng liên thông với các trường dạy nghề có uy tín tại Sài Gòn, theo hướng giao lưu, trau dồi, nâng cao trình độ của giáo chức nhà trường, tôi đã chấp nhận làm hiệu trưởng không ăn lương. Đến đầu năm 2011, trường Phương Đông đã tìm được hiệu trưởng mới có điều kiện thường trực tại Tam Kỳ, tôi đã xin chấm dứt vai trò của mình với sự đồng thuận của các thành viên sáng lập.
Làm gì cho đất Quảng quê tôi, từ dự định đến thực hiện, quãng cách vẫn còn xa. Nhưng trong sâu thẳm của tâm hồn, tôi không bao giờ thấy áy náy hay tiếc nuối. Bởi lòng tôi lúc nào cũng gần gũi với quê cha, đất tổ.
“Tôi
có cảm tưởng hôm nay khi đồng ý về đây nhậm chức lãnh đạo nhà trường,
tôi đã đi trọn con đường vòng phát xuất cách đây đã 60 năm ròng rã.
Trước đây 60 năm, tôi đã từng là cậu bé sống lưu lạc ở Tam Kỳ, được một
gia đình ở Tam Dân cho tá túc nương tựa. Tôi đã từng làm công việc đồng
áng, từng chăn trâu, tát đìa, bắt cá, hái củi, trồng rau, tham gia chia
phần lao động cho gia đình. Tôi cũng đã được cắp sách đến trường trong
giai đoạn rất khó khăn của chiến tranh, kháng chiến, thường xuyên bị máy
bay oanh tạc, học hành không liên tục và bài bản. Rất may, tôi đã được
sống sót, rồi sau này có điều kiện vươn lên vì được đi du học tại châu
Âu.
Nhìn các em hôm may tôi nhớ lại năm xưa và tôi rất vui sẽ đồng hành với các em trên con đường, xây dựng nhà trường, cải tiến phòng thí nghiệm, bồi dưỡng giáo viên, liên thông đào tạo, cải tiến chất lượng học trình… Tôi mong mỏi các em sẽ phấn đấu học hành, thấu triệt tay nghề, cùng nhau trở về với truyền thống giáo dục dân tộc: nhất nghệ tinh nhất thân vinh, không chạy theo bằng cấp hão, nói không với hình thức, với giả tạo, với thành tích không dựa trên thực chất…”. (Phát biểu của GS. Nguyễn Đăng Hưng tại ngày tựu trường 2010, khai giảng niên học ở trường Phương Đông, Tam Kỳ). |
GS - TSKH NGUYỄN ĐĂNG HƯNG
Theo baoquangnam
- Cô gái Tây lướt sóng cứu người ở biển Đà Nẵng
- Đà Nẵng; Không dỡ bỏ cầu Nguyễn Văn Trỗi
- Sân bay quốc tế Đà Nẵng dùng điện năng lượng mặt trời
- Đà Nẵng: Đào tạo thạc sĩ chui, hai cơ sở bị tuýt còi
- Thăng Bình vui tết
- Đà Nẵng và sự phát triển từ góc nhìn phong thủy
- Hạn chế nhập cư Đà Nẵng "không trái luật"
- Quảng Nam:Đất khoa bảng
- Mùa Xuân về với người nghèo đất Quảng
- Đà Nẵng hoàn thành đường hoa Bạch Đằng












